





Máy bơm chữa cháy là cụm bơm cấp nước cho hệ thống chữa cháy, phải tạo đủ áp lực tại đầu lăng ở vị trí bất lợi nhất trong công trình. Khác mọi nhóm máy bơm khác, nhóm này gần như không bao giờ chạy trong suốt vòng đời, nhưng phải chạy được ngay lần duy nhất nó cần đến. Sản phẩm được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Chính đặc điểm đó làm đảo lộn mọi tiêu chí chọn mua. Với bơm nước sinh hoạt, người ta quan tâm tiết kiệm điện và độ bền khi chạy liên tục. Với bơm chữa cháy, hai tiêu chí đó gần như vô nghĩa, còn thứ quan trọng nhất là độ tin cậy khởi động sau nhiều tháng nằm im.
Đây là nguyên tắc gốc và cũng là chỗ mà bản vẽ thiết kế khác hẳn cách nghĩ thông thường.
Điểm bất lợi nhất là họng nước vừa xa nhất vừa cao nhất so với vị trí đặt bơm, thường là họng ở tầng trên cùng và ở cuối tuyến ống. Toàn bộ hệ phải được tính sao cho tại chính điểm đó vẫn còn đủ áp để tia nước phun tới đám cháy.
Áp cần thiết là tổng của bốn phần: chiều cao từ mặt nước trong bể lên tới họng, tổn thất dọc đường ống, tổn thất qua các van và khúc co, và áp tối thiểu cần có ngay tại đầu lăng để tia nước đủ mạnh.
| Thành phần | Đặc điểm |
|---|---|
| Chiều cao hình học | Cố định theo công trình, tính từ mặt nước thấp nhất trong bể |
| Tổn thất đường ống | Tăng theo chiều dài và tăng rất nhanh khi ống nhỏ |
| Tổn thất qua van và khúc co | Cộng dồn, mỗi chi tiết một phần |
| Áp tại đầu lăng | Không được thấp hơn mức quy định, quyết định tầm phun |
Điểm khác biệt lớn nhất so với bơm sinh hoạt: hệ chữa cháy phải tính cho trường hợp nhiều họng mở CÙNG LÚC, vì thực tế chữa cháy không bao giờ chỉ mở một họng. Số họng tính đồng thời là con số do thiết kế quy định theo loại và quy mô công trình.
Các mốc áp lực, lưu lượng và số họng đồng thời đều được nêu trong quy định hiện hành về phòng cháy chữa cháy, và chúng khác nhau theo loại công trình. Chủ đầu tư phải yêu cầu đơn vị thiết kế dẫn chiếu căn cứ chính thức áp dụng cho chính công trình của mình, vì đây là hạng mục phải nghiệm thu với cơ quan chức năng chứ không phải chọn theo kinh nghiệm.
| GHI NHỚ NHANH Máy bơm chữa cháy không phải món chọn theo báo giá. Nó là một hạng mục có hồ sơ thiết kế được thẩm duyệt, và cụm bơm phải đúng với hồ sơ đó thì mới nghiệm thu được. Mua trước rồi mới tính là cách làm dẫn tới việc phải thay lại toàn bộ cụm, vì cơ quan chức năng đối chiếu theo hồ sơ chứ không theo thiết bị đang lắp. |
Một hệ chữa cháy hoàn chỉnh hầu như luôn gồm ba máy bơm chứ không phải một. Ba chiếc này làm ba việc khác nhau và không thay thế nhau được.
| Bơm | Nhiệm vụ | Khi nào chạy |
|---|---|---|
| Bơm chính chạy điện | Cấp toàn bộ lưu lượng và áp khi có cháy | Áp trong ống tụt tới ngưỡng chữa cháy |
| Bơm dự phòng chạy động cơ dầu | Thay bơm chính khi mất điện hoặc bơm chính không khởi động | Bơm chính không lên áp sau thời gian chờ |
| Bơm bù áp | Giữ áp đường ống ở mức chờ | Áp tụt nhẹ do rò rỉ tự nhiên |
Vì sao phải có bơm dự phòng chạy động cơ dầu. Cháy và mất điện rất hay đi cùng nhau, hoặc do chính đám cháy làm hỏng tuyến điện, hoặc do người ta chủ động cắt điện toàn nhà để an toàn khi chữa cháy. Một hệ chỉ có bơm điện là một hệ có thể vô dụng đúng lúc cần nhất.
Bơm dự phòng phải là loại chạy được độc lập hoàn toàn: có bình nhiên liệu riêng, có ắc quy khởi động riêng, và bộ nạp ắc quy phải hoạt động thường xuyên để ắc quy luôn đầy. Ắc quy hết điện là lỗi làm hỏng cả hệ mà không ai phát hiện cho tới lúc thử.
Bơm bù áp có công suất nhỏ nhất trong cụm và cũng hay bị cắt bỏ nhất khi cần tiết kiệm. Nhưng nó giải quyết một vấn đề mà hai chiếc kia không giải quyết được.
Đường ống chữa cháy luôn được giữ đầy nước có áp, để khi mở họng là có nước ngay chứ không phải chờ bơm mồi. Nhưng mọi đường ống đều rò rỉ một chút qua các mối nối và van, nên áp trong ống tụt dần theo giờ.
Nếu không có bơm bù áp, mỗi lần áp tụt do rò rỉ tự nhiên thì BƠM CHÍNH sẽ khởi động. Bơm chính có công suất lớn, khởi động là dội một cú áp mạnh vào đường ống, và việc này lặp lại nhiều lần mỗi ngày sẽ làm hỏng mối nối, hỏng van và hỏng chính bơm chính.
Bơm bù áp chạy trước và bù phần rò rỉ đó bằng công suất nhỏ. Nhờ vậy bơm chính chỉ khởi động khi áp tụt SÂU, tức là khi thực sự có họng nước được mở. Cách đặt ngưỡng đúng là ngưỡng khởi động của bơm bù áp phải cao hơn ngưỡng của bơm chính một khoảng đủ rộng.
| MẸO CHUYÊN GIA Nếu thấy bơm bù áp chạy nhiều lần trong một giờ, đừng chỉnh ngưỡng cho nó chạy ít lại. Đó là dấu hiệu đường ống đang rò ở đâu đó, và việc chỉnh ngưỡng chỉ che mất triệu chứng. Hãy đóng van chặn từng nhánh rồi theo dõi tốc độ tụt áp của từng đoạn, nhánh nào tụt nhanh thì rò ở đó. Một hệ kín tốt có thể giữ áp nhiều ngày mà bơm bù áp không cần chạy. |
Đây là điểm trái ngược hoàn toàn với mọi loại bơm khác và cũng là chi tiết hay bị chỉnh sai khi bảo trì.
Bơm chữa cháy chính phải khởi động tự động nhưng DỪNG BẰNG TAY. Một khi đã chạy, nó tiếp tục chạy cho tới khi có người trực tiếp tắt tại tủ điều khiển, kể cả khi áp trong ống đã phục hồi.
Lý do rất thực tế. Trong lúc chữa cháy, lực lượng chữa cháy đóng mở họng liên tục theo tình huống. Nếu bơm tự dừng mỗi lần áp phục hồi rồi lại tự khởi động, hệ sẽ dao động, và có những khoảnh khắc người cầm lăng không có nước đúng lúc cần nhất.
Hệ quả với người vận hành: sau mỗi lần bơm chạy, dù là chạy thử hay chạy thật, phải có người ra tủ điều khiển tắt bằng tay và ghi lại sự việc. Không được cải tạo tủ để bơm tự dừng cho tiện.
| LƯU Ý KỸ THUẬT Không được lắp thiết bị bảo vệ quá tải cắt bơm chữa cháy chính theo cách như với động cơ thông thường. Với bơm chữa cháy, nguyên tắc là thà cháy động cơ còn hơn mất nước giữa lúc chữa cháy. Tủ điều khiển bơm chữa cháy là loại chuyên dụng có logic khác hẳn tủ động lực thường, và tuyệt đối không thay bằng tủ tự chế hoặc tủ dùng chung với thiết bị khác. |
Máy bơm chỉ là một phần. Thứ quyết định hệ chữa cháy được bao lâu là lượng nước dự trữ.
Bể chữa cháy phải có phần dung tích DÀNH RIÊNG, không được dùng chung với nước sinh hoạt tới mức có thể bị rút cạn. Cách làm phổ biến là đặt ống hút của bơm sinh hoạt cao hơn ống hút của bơm chữa cháy, nên khi nước xuống thấp thì bơm sinh hoạt hết nước trước, còn phần dưới vẫn nguyên cho chữa cháy.
Thời gian cấp nước liên tục được quy định theo loại công trình và là căn cứ để tính dung tích bể. Con số này nhân với lưu lượng thiết kế ra thể tích nước tối thiểu phải có.
Ba chi tiết ở bể hay sai trong thực tế: ống hút không có rọ chắn rác nên rác vào làm kẹt bơm, đáy bể không có hố thu nên phần nước cuối không hút được, và không có đường nước bổ sung tự động nên bể cạn dần mà không ai biết. Cả ba đều làm hệ mất tác dụng dù bơm vẫn tốt.
Bơm chữa cháy nên đặt THẤP HƠN mặt nước bể để nước tự chảy vào buồng bơm. Bố trí này loại bỏ hoàn toàn khâu mồi nước, và với hệ phải khởi động tức thì thì đây là cách đáng tin cậy nhất.
Với thiết bị nằm im nhiều tháng, việc chạy thử không phải bảo dưỡng cho có mà chính là điều kiện để hệ hoạt động khi cần.
Vì sao thiết bị nằm im lại hỏng. Phớt khô lại và dính vào trục, ổ bi mất màng dầu ở điểm tiếp xúc, ắc quy tự xả, nhiên liệu trong bình biến chất, và cánh bơm bị cặn bám cứng lại. Không có việc nào trong số này gây tiếng động hay dấu hiệu bên ngoài.
| Hạng mục kiểm | Việc cần làm |
|---|---|
| Bơm chính | Chạy thử và ghi lại áp đạt được, so với lần trước |
| Bơm dự phòng động cơ dầu | Khởi động thử, kiểm mức nhiên liệu và điện áp ắc quy |
| Bơm bù áp | Đếm số lần khởi động trong ngày để phát hiện rò rỉ |
| Tủ điều khiển | Thử chế độ tự động và chế độ tay, kiểm đèn báo |
| Mực nước bể | Kiểm mực nước và hoạt động của van cấp bù |
| Van và họng nước | Đóng mở thử để van không kẹt cứng vì lâu không dùng |
Ghi chép là phần quan trọng ngang với việc thử. Sổ theo dõi ghi ngày thử, áp đạt được, thời gian khởi động và người thực hiện. Nhờ có sổ mới phát hiện được xu hướng: nếu áp đạt được giảm dần qua các lần thử thì bơm hoặc đường ống đang xuống cấp, và có thời gian xử lý trước khi sự cố xảy ra.
Van chặn phải luôn ở đúng trạng thái mở và được khóa ở vị trí đó. Van bị đóng nhầm sau khi bảo trì là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất khiến hệ chữa cháy không có nước, và nó hoàn toàn không nhìn thấy được nếu không kiểm.
Thống kê thực tế cho thấy phần lớn ca hệ chữa cháy không hoạt động không phải do bơm hỏng. Bơm vẫn quay, vẫn kêu, nhưng nước không tới nơi cần tới.
Sự cố thứ nhất, van chặn bị đóng. Sau một đợt bảo trì đường ống, thợ đóng van để làm việc rồi quên mở lại. Hệ trông vẫn bình thường, đèn tủ vẫn sáng, chỉ có nước là không đi được. Cách phòng là khóa van ở vị trí mở bằng khóa chuyên dụng và ghi biên bản mỗi lần thao tác van.
Sự cố thứ hai, bể cạn mà không ai biết. Van cấp bù nước vào bể hỏng hoặc bị khóa, mực nước tụt dần qua nhiều tháng. Cách phòng là lắp báo mức thấp có tín hiệu đưa về nơi có người trực, không chỉ là phao cơ trong bể.
Sự cố thứ ba, ắc quy bơm dự phòng hết điện. Bộ nạp hỏng lặng lẽ, ắc quy tự xả dần, và tới lúc cần thì động cơ dầu không đề nổi. Cách phòng là đo điện áp ắc quy trong mỗi lần kiểm định kỳ và ghi vào sổ để thấy xu hướng.
Sự cố thứ tư, tủ điều khiển bị chuyển sang chế độ tay rồi để nguyên. Sau một lần chạy thử, người vận hành quên trả về chế độ tự động. Khi có cháy, bơm không tự khởi động vì đang chờ lệnh tay. Cách phòng là đưa việc kiểm vị trí công tắc chế độ vào danh mục kiểm hằng tuần.
Điểm chung của cả bốn: không có cái nào phát ra tiếng động hay dấu hiệu nhìn thấy được, và cả bốn đều chỉ lộ ra khi thử hoặc khi có cháy thật. Đây chính là lý do việc chạy thử định kỳ và ghi sổ quan trọng hơn cả chất lượng chiếc bơm.
Đây là nhóm hàng duy nhất trong danh mục mà việc mua đúng thiết bị vẫn chưa đủ, còn phải đúng hồ sơ.
Thứ tự đúng gồm bốn bước: lập hồ sơ thiết kế hệ chữa cháy cho công trình, thẩm duyệt hồ sơ với cơ quan chức năng, mua và lắp thiết bị đúng theo hồ sơ đã duyệt, rồi nghiệm thu để đưa vào sử dụng.
Sai lầm tốn kém nhất là làm ngược: mua cụm bơm trước theo báo giá rẻ, lắp xong mới lập hồ sơ. Khi đó nếu thiết bị không đạt yêu cầu của hồ sơ thì phải tháo ra thay lại toàn bộ, và chi phí đó lớn hơn phần chênh lệch giá ban đầu rất nhiều.
Giấy tờ cần giữ theo cụm bơm gồm chứng nhận xuất xứ, chứng nhận chất lượng, tài liệu kỹ thuật có đường đặc tính bơm, và biên bản chạy thử tại hiện trường. Bộ giấy tờ này là phần được kiểm khi nghiệm thu, và cũng là căn cứ khi làm việc với bên bảo hiểm nếu có sự cố.
Với công trình cải tạo, việc thay đổi công năng hoặc mở rộng diện tích thường kéo theo yêu cầu mới cho hệ chữa cháy. Cụm bơm đủ cho công trình cũ có thể không còn đủ, nên phải rà lại hồ sơ trước khi cải tạo chứ không phải sau.
Giá phụ thuộc vào lưu lượng, cột áp, loại động cơ và cấu hình cụm. Bảng dưới là khoảng giá tham khảo.
| Nhóm sản phẩm | Đặc điểm | Khoảng giá tham khảo |
|---|---|---|
| Bơm bù áp | Công suất nhỏ, giữ áp đường ống | 5.000.000 - 20.000.000 đ |
| Bơm chính chạy điện | Theo lưu lượng và cột áp thiết kế | Liên hệ theo hồ sơ |
| Bơm dự phòng động cơ dầu | Có bình nhiên liệu và ắc quy riêng | Liên hệ theo công suất |
| Tủ điều khiển chuyên dụng | Logic riêng cho bơm chữa cháy | Liên hệ theo cấu hình cụm |
| Trọn cụm ba bơm kèm tủ | Đồng bộ theo hồ sơ đã thẩm duyệt | Báo giá theo bản vẽ |
Với chủ đầu tư, nhà thầu cơ điện và đơn vị thi công phòng cháy chữa cháy, chính sách chiết khấu theo cấp giá trị đơn hàng được áp dụng linh hoạt kèm hỗ trợ giao hàng ba miền. Với hạng mục này, nên đặt trọn cụm gồm cả tủ điều khiển thay vì mua rời từng bơm, vì cụm đồng bộ mới bảo đảm logic khởi động và phối hợp giữa ba bơm đúng như hồ sơ. Khách gửi bản vẽ hệ chữa cháy hoặc thông số lưu lượng và cột áp thiết kế sẽ nhận lại phương án cụm bơm cùng báo giá theo cấp.
Với nhóm hàng này, thứ khách hàng mua không phải chiếc máy mà là sự chắc chắn rằng nó chạy được vào cái ngày duy nhất nó cần chạy. Một cụm bơm rẻ nhưng không nghiệm thu được, hoặc nghiệm thu xong rồi nằm im tới lúc hỏng mà không ai biết, đều là khoản chi phí bỏ đi.
Sản phẩm có chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng, kèm tài liệu kỹ thuật có đường đặc tính bơm để đối chiếu với hồ sơ thiết kế. Với hạng mục phải nghiệm thu, bộ giấy tờ đi kèm quan trọng ngang với bản thân thiết bị, và đây là chỗ hàng không rõ nguồn gốc không đáp ứng được.
Đội kỹ thuật làm việc theo bản vẽ hệ chữa cháy và thông số thiết kế thay vì bán theo công suất khách đọc, tư vấn cấu hình trọn cụm ba bơm cùng tủ điều khiển chuyên dụng để logic phối hợp đúng ngay từ đầu. Kho ba miền giao nhanh, hỗ trợ vật tư và phụ tùng cho việc chạy thử định kỳ. Máy bơm chữa cháy được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Xem thêm nhóm cha máy bơm, đối chiếu với máy bơm nước cho hệ nước sinh hoạt của cùng công trình, và máy bơm dầu nếu cần chuyển nhiên liệu cho bơm dự phòng.
Theo áp lực và lưu lượng cần có tại đầu lăng ở vị trí bất lợi nhất, tức họng vừa xa nhất vừa cao nhất, và phải tính cho nhiều họng mở cùng lúc. Các mốc cụ thể do hồ sơ thiết kế đã thẩm duyệt quy định.
Bơm chính chạy điện cấp nước khi có cháy, bơm dự phòng động cơ dầu thay thế khi mất điện, còn bơm bù áp giữ áp đường ống để bơm chính không phải khởi động vì rò rỉ tự nhiên. Ba việc khác nhau, không thay thế nhau được.
Không nên. Thiếu nó thì bơm chính khởi động mỗi lần áp tụt do rò rỉ, mỗi lần khởi động là một cú dội áp mạnh vào đường ống, lặp lại nhiều lần mỗi ngày sẽ làm hỏng mối nối, van và chính bơm chính.
Vì trong lúc chữa cháy, họng nước được đóng mở liên tục. Nếu bơm tự dừng mỗi khi áp phục hồi rồi lại tự khởi động, hệ sẽ dao động và có lúc người cầm lăng không có nước. Bơm phải dừng bằng tay tại tủ điều khiển.
Được nhưng phải có phần dung tích dành riêng. Cách làm phổ biến là đặt ống hút của bơm sinh hoạt cao hơn ống hút bơm chữa cháy, để phần nước phía dưới không bao giờ bị rút cạn cho sinh hoạt.
Theo chu kỳ trong quy trình vận hành của công trình, và mỗi lần phải ghi sổ đầy đủ gồm ngày thử, áp đạt được, thời gian khởi động và người thực hiện. Nhờ sổ mới phát hiện được xu hướng xuống cấp.
Không nên. Cụm bơm phải đúng với hồ sơ thiết kế đã thẩm duyệt thì mới nghiệm thu được. Mua trước rồi phát hiện không đạt thì phải tháo thay toàn bộ, tốn hơn nhiều so với phần chênh lệch giá ban đầu.
Nguồn gốc: Hoàng Phát Lighting
Xem thêm
