













Máy bơm keo là thiết bị đẩy keo, silicon, mỡ bò và các chất lỏng đặc dính từ thùng chứa tới đầu ra với lượng kiểm soát được. Khác với mọi nhóm máy bơm khác, giá trị của máy bơm keo không nằm ở chỗ bơm được bao nhiêu mỗi giờ mà ở chỗ mỗi lần bắn ra ĐÚNG bao nhiêu. Sản phẩm được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Đây là điểm khiến nhóm này bị chọn sai nhiều nhất. Người mua quen hỏi lưu lượng lít mỗi phút như khi mua bơm nước, trong khi con số cần hỏi lại là lượng vật liệu ra trong MỘT NHỊP và sai số giữa các nhịp.
Công việc của máy bơm keo hầu như luôn là lặp lại một thao tác giống hệt nhau hàng nghìn lần: bắn một chấm keo lên vị trí lắp ráp, chạy một đường keo dọc theo mối ghép, bơm một lượng mỡ vào ổ bi.
Điều quan trọng là mỗi lần phải giống lần trước. Chấm keo lần này 0,3 gam mà lần sau 0,5 gam thì sản phẩm không đồng đều, chỗ thừa tràn ra ngoài còn chỗ thiếu bong mối dán. Với dây chuyền chạy hàng nghìn sản phẩm mỗi ca, sai số nhỏ nhân lên thành lỗi hàng loạt.
| Con số cần hỏi | Ý nghĩa | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
| Lượng ra mỗi nhịp | Bao nhiêu gam hoặc mililít cho một lần bắn | Quyết định máy có làm được việc của bạn không |
| Sai số giữa các nhịp | Chênh lệch giữa lần nhiều nhất và ít nhất | Quyết định tỷ lệ sản phẩm lỗi |
| Dải điều chỉnh | Từ lượng nhỏ nhất tới lớn nhất chỉnh được | Quyết định máy dùng được cho mấy loại việc |
| Số nhịp tối đa mỗi phút | Tốc độ lặp lại | Quyết định máy theo kịp nhịp dây chuyền không |
| Thời gian dứt keo | Keo ngừng chảy nhanh hay còn rỉ sau khi ngắt | Quyết định có bị dây keo ra ngoài không |
| GHI NHỚ NHANH Đừng hỏi máy này bơm được bao nhiêu lít mỗi giờ. Hãy hỏi ba câu khác: một nhịp ra bao nhiêu, hai nhịp liên tiếp chênh nhau bao nhiêu, và khi ngắt thì keo có rỉ thêm không. Ba câu này quyết định máy dùng được hay không, còn con số lít mỗi giờ gần như vô nghĩa với công việc dán và tra mỡ. |
Đây là lỗi phổ biến nhất khi bơm vật liệu đặc dính, và nó không phải lỗi hỏng máy mà là đặc tính vật lý phải xử lý bằng thiết kế.
Cơ chế: keo đặc có tính đàn hồi. Khi máy ngừng đẩy, phần keo trong ống vẫn còn bị nén và tiếp tục giãn ra, đẩy thêm một lượng nhỏ ra khỏi đầu vòi. Với chấm keo cần chính xác, phần rỉ thêm này chính là sai số.
Bốn cách xử lý, thường phải dùng kết hợp. Một là dùng van đóng nhanh ngay tại đầu vòi thay vì ngắt ở máy, khoảng cách càng ngắn thì lượng rỉ càng ít. Hai là dùng cơ cấu hút ngược một đoạn rất nhỏ ngay khi ngắt để kéo keo tụt lại vào trong vòi. Ba là giảm chiều dài ống dẫn keo từ máy tới đầu vòi. Bốn là hạ áp suất đẩy xuống mức vừa đủ thay vì đặt cao cho chắc.
Dấu hiệu nhận biết máy đang rỉ đuôi: đầu vòi luôn có một giọt treo lơ lửng sau mỗi nhịp, và giọt đó rơi xuống chỗ không mong muốn. Ngoài lãng phí vật liệu, nó còn làm bẩn sản phẩm và làm tắc đầu vòi khi keo khô lại.
Với chất lỏng đặc dính, ống dẫn không phải chi tiết phụ mà là một phần của hệ định lượng.
Ống càng dài thì độ trễ càng lớn. Bấm nút xong keo không ra ngay mà phải sau một khoảng, và khi nhả nút thì keo cũng không dừng ngay. Với dây chuyền chạy nhanh, độ trễ này làm keo bắn lệch vị trí.
Ống càng nhỏ thì áp suất cần càng cao, và áp cao lại làm hiện tượng rỉ đuôi nặng hơn vì keo trong ống bị nén nhiều hơn. Ngược lại ống quá to thì lượng keo nằm chờ trong ống nhiều, dễ đóng rắn nếu ngừng lâu.
| Tình huống | Bố trí nên chọn |
|---|---|
| Chấm keo nhỏ, cần chính xác cao | Ống ngắn nhất có thể, van đóng ngay đầu vòi |
| Chạy đường keo dài, liên tục | Ống vừa, ưu tiên dòng đều hơn độ chính xác nhịp |
| Vật liệu đóng rắn nhanh | Ống ngắn, dễ tháo vệ sinh, tránh đoạn cụt |
| Đầu bắn di chuyển theo tay thợ | Ống mềm đủ dài nhưng không dư, có giá treo đỡ ống |
Chi tiết hay bị bỏ sót là ĐOẠN CỤT trong đường ống, tức những nhánh có keo nằm yên không bao giờ chảy qua. Keo ở đó đóng rắn dần rồi bong ra thành mảnh, trôi theo dòng và làm tắc đầu vòi vào lúc không ngờ nhất. Thiết kế đường ống cho keo phải bảo đảm mọi phần vật liệu đều di chuyển.
| LƯU Ý KỸ THUẬT Với vật liệu đóng rắn theo thời gian hoặc theo độ ẩm, việc vệ sinh cuối ca không phải là tùy chọn. Keo còn lại trong ống và trong buồng bơm sẽ cứng lại qua đêm, và sáng hôm sau việc thông lại thường tốn hơn cả tiền vật liệu tiết kiệm được. Quy trình đúng là xả hết vật liệu, chạy dung môi hoặc chất bảo quản do nhà sản xuất chỉ định, rồi để hệ ở trạng thái sạch. |
Đây là phân loại quyết định cấu hình cả hệ chứ không chỉ chọn máy.
Vật liệu ở dạng dùng ngay, đóng rắn nhờ độ ẩm không khí, nhờ nhiệt hoặc nhờ bay hơi dung môi. Hệ chỉ cần một đường bơm. Đây là nhóm phổ thông cho silicon, keo dán thông dụng và mỡ bò.
Vật liệu gồm phần nhựa và phần đóng rắn, chỉ phản ứng khi trộn với nhau theo đúng tỷ lệ. Hệ cần hai đường bơm chạy đồng bộ và một đầu trộn ở cuối. Điểm khó là giữ đúng tỷ lệ trong suốt quá trình, vì hai thành phần thường có độ nhớt khác nhau nên không tự chạy đều được.
Ba việc bắt buộc với hệ hai thành phần: kiểm tỷ lệ định kỳ bằng cách bắn ra hai cốc riêng rồi cân, thay đầu trộn dùng một lần theo đúng khuyến cáo, và không để hệ dừng lâu khi vật liệu đã vào tới đầu trộn.
Vì sao đầu trộn là chi tiết tiêu hao: bên trong đầu trộn có các cánh xoắn để hai dòng vật liệu đan vào nhau. Sau khi ngừng bắn, phần vật liệu đã trộn nằm lại trong đó sẽ đóng rắn và bít luôn đầu trộn. Đây là chi tiết dùng một lần, phải đặt dự phòng theo số ca chạy.
Nhiều loại keo và chất trám có hạt độn để tăng độ bền và giảm giá thành. Hạt độn tốt cho sản phẩm nhưng khó cho máy bơm.
Hai vấn đề hạt độn gây ra. Thứ nhất là mài mòn: hạt cứng đi qua khe hở giữa các chi tiết chuyển động sẽ cào xước bề mặt, làm khe hở rộng dần và độ chính xác định lượng giảm theo thời gian. Thứ hai là lắng đọng: hạt nặng lắng xuống đáy thùng chứa khi ngừng lâu, làm phần bơm ra lúc đầu ca có tỷ lệ hạt khác phần sau.
Cách xử lý mài mòn là chọn máy có bề mặt tiếp xúc chịu mài mòn tốt và chấp nhận đây là chi tiết thay theo chu kỳ. Với vật liệu nhiều hạt độn, tuổi thọ tính bằng số nhịp chứ không tính bằng năm.
Cách xử lý lắng đọng là dùng cơ cấu khuấy trong thùng chứa, hoặc chạy tuần hoàn vật liệu về thùng khi máy không bắn. Với vật liệu dễ lắng, bỏ qua bước này thì mẻ đầu ca luôn khác mẻ giữa ca.
| MẸO CHUYÊN GIA Trước khi chốt mua, hãy mang chính loại keo bạn đang dùng tới chạy thử, đừng thử bằng vật liệu mẫu của nhà cung cấp. Bắn liên tiếp hai mươi nhịp vào hai mươi cái cốc giấy rồi cân từng cái. Chênh lệch giữa cốc nặng nhất và nhẹ nhất chính là sai số thật của hệ với vật liệu thật của bạn, và con số đó thường khác xa con số trong tài liệu kỹ thuật. |
Máy bơm keo được đẩy bằng một trong ba nguồn, và lựa chọn này quyết định cả độ chính xác lẫn chi phí vận hành.
| Nguồn động lực | Ưu điểm | Hạn chế |
|---|---|---|
| Khí nén | Gọn, rẻ, an toàn ở nơi có hơi dung môi | Phụ thuộc chất lượng khí, áp dao động theo mạng khí |
| Động cơ điện | Lượng ra ổn định, chỉnh chính xác | Giá cao hơn, cần tủ điều khiển |
| Thủy lực | Lực đẩy lớn nhất, cho vật liệu rất đặc | Cồng kềnh, cần bộ nguồn riêng |
Nhóm khí nén là phổ thông nhất trong xưởng nhỏ và vừa, vì hầu hết xưởng đã có sẵn mạng khí. Nhưng cần biết một điều: độ chính xác của hệ khí nén phụ thuộc vào áp khí đầu vào, và áp khí trong xưởng dao động theo số máy đang chạy. Nếu buổi trưa cả xưởng bật máy thì áp tụt và chấm keo nhỏ lại.
Cách chữa cho hệ khí nén là lắp bộ điều áp riêng ngay trước máy bơm keo, đặt ở mức thấp hơn áp thấp nhất của mạng khí. Khi đó dù mạng dao động thì áp vào máy vẫn cố định. Thêm bộ lọc tách nước và tách dầu cũng bắt buộc, vì nước hoặc dầu lọt vào vật liệu là hỏng mối dán.
Nhóm động cơ điện cho lượng ra ổn định nhất vì cơ cấu đẩy theo hành trình cơ khí, không phụ thuộc áp khí. Đây là lựa chọn cho dây chuyền cần đồng đều cao và chạy nhiều ca.
Thứ nhất, chọn máy theo lưu lượng thay vì theo lượng mỗi nhịp. Máy bơm được nhiều lít mỗi giờ nhưng không bắn nổi chấm keo nhỏ và đều là máy sai việc.
Thứ hai, đặt áp suất cao cho chắc. Áp cao làm keo trong ống bị nén nhiều hơn, và toàn bộ phần nén đó sẽ giãn ra thành giọt rỉ sau mỗi nhịp. Áp đúng là áp vừa đủ.
Thứ ba, để ống dẫn dài hơn cần thiết cho gọn gàng. Mỗi mét ống thêm vào là thêm độ trễ, thêm lượng keo nằm chờ và thêm nguy cơ đóng rắn khi ngừng.
Thứ tư, bỏ bước vệ sinh cuối ca vì còn ít vật liệu. Chính phần ít đó đóng rắn và bít đường ống, và việc thông lại thường mất cả buổi sáng hôm sau.
Thứ năm, dùng chung một đầu vòi cho nhiều loại vật liệu. Tàn dư của loại trước phản ứng với loại sau, tạo hạt cứng làm tắc vòi và làm hỏng mối dán mà không nhìn thấy được từ bên ngoài.
Keo và mỡ đều loãng ra khi ấm và đặc lại khi nguội, nên nhiệt độ xưởng ảnh hưởng trực tiếp tới lượng ra mỗi nhịp.
Hệ quả thực tế: cùng một cài đặt máy, chấm keo buổi sáng sớm nhỏ hơn chấm keo buổi trưa. Với dây chuyền cần đồng đều cả ngày, đây là nguyên nhân của những đợt lỗi xuất hiện theo giờ mà không ai giải thích được.
Hai cách xử lý. Cách đơn giản là chỉnh lại cài đặt vài lần trong ngày theo nhiệt độ, phù hợp với xưởng nhỏ. Cách ổn định là dùng bộ gia nhiệt giữ vật liệu ở một nhiệt độ cố định, tốn kém hơn nhưng loại bỏ hẳn biến số này.
Với vật liệu bảo quản lạnh, phải để vật liệu về nhiệt độ làm việc trước khi bắn, không lấy từ kho lạnh ra dùng ngay. Thời gian chờ này nên đưa vào quy trình đầu ca chứ không để người vận hành tự quyết.
Keo là vật liệu có hạn dùng và có điều kiện bảo quản, khác hẳn dầu hay nước. Vật liệu đã xuống cấp thì không máy nào cứu được.
Ba yếu tố làm keo hỏng trong kho: nhiệt độ vượt ngưỡng nhà sản xuất công bố, thùng đã mở nắp tiếp xúc với không khí ẩm, và thời gian lưu kho vượt hạn dùng. Cả ba đều làm vật liệu đặc dần, và vật liệu đặc dần nghĩa là lượng ra mỗi nhịp giảm dần dù máy không đổi cài đặt.
Dấu hiệu vật liệu đã xuống cấp: phải tăng áp suất lên mới ra đủ lượng như trước, bề mặt vật liệu trong thùng có lớp màng, hoặc xuất hiện hạt lợn cợn khi bắn thử ra giấy. Gặp ba dấu hiệu này thì đổi thùng mới trước khi nghi ngờ máy.
Nguyên tắc kho vào trước ra trước đặc biệt quan trọng với nhóm này. Ghi ngày nhập lên từng thùng và luôn dùng thùng cũ trước. Với thùng đã mở, ghi thêm ngày mở nắp vì hạn dùng sau khi mở ngắn hơn hạn ghi trên bao bì rất nhiều.
Chuẩn bị đầu ca: lấy vật liệu ra khỏi kho lạnh đủ sớm để về nhiệt độ làm việc, khuấy đều nếu là loại có hạt độn, rồi bắn bỏ vài nhịp đầu ra giấy trước khi vào sản phẩm thật. Ba nhịp bỏ đi này rẻ hơn nhiều so với ba sản phẩm lỗi.
Giá phụ thuộc vào độ chính xác định lượng, dải vật liệu xử lý được, số thành phần và mức độ tự động. Bảng dưới là khoảng giá tham khảo.
| Nhóm sản phẩm | Đặc điểm | Khoảng giá tham khảo |
|---|---|---|
| Bộ bắn keo cầm tay dùng khí nén | Việc lẻ, sửa chữa, số lượng nhỏ | 1.000.000 - 4.000.000 đ |
| Bơm keo định lượng một thành phần | Dây chuyền lắp ráp, chấm keo lặp lại | 8.000.000 - 30.000.000 đ |
| Bơm mỡ bò công nghiệp | Tra mỡ ổ bi, bảo dưỡng máy | 5.000.000 - 20.000.000 đ |
| Hệ hai thành phần có đầu trộn | Keo phản ứng, đổ khuôn | Liên hệ theo tỷ lệ trộn |
| Đầu trộn và vòi bắn thay thế | Vật tư tiêu hao theo ca | Báo giá theo số lượng |
Với xưởng sản xuất, đơn vị lắp ráp và các đơn vị mua số lượng, chính sách chiết khấu theo cấp giá trị đơn hàng được áp dụng linh hoạt kèm hỗ trợ giao hàng ba miền. Với hệ chạy theo ca, nên đặt kèm đầu trộn và vòi bắn dự phòng ngay từ đầu vì đây là vật tư tiêu hao chứ không phải phụ tùng. Khách gửi tên vật liệu, độ nhớt, có hạt độn hay không, lượng cần cho mỗi nhịp và số nhịp mỗi phút sẽ nhận lại phương án cấu hình cùng báo giá theo cấp.
Với nhóm hàng này, một chiếc máy đúng thông số vẫn có thể không dùng được nếu vật liệu thực tế khác với vật liệu mà nhà sản xuất thử nghiệm. Chọn máy cho keo là chọn cho MỘT LOẠI VẬT LIỆU CỤ THỂ chứ không phải cho một nhóm hàng.
Sản phẩm có chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng, công bố rõ lượng ra mỗi nhịp, dải điều chỉnh, sai số định lượng, dải độ nhớt xử lý được, áp suất làm việc và vật liệu các chi tiết tiếp xúc. Với thiết bị định lượng, sai số công bố là thông số quan trọng nhất và cũng là thông số hàng trôi nổi luôn bỏ trống.
Đội kỹ thuật hỏi trước tên vật liệu, độ nhớt, có hạt độn hay không, nhiệt độ xưởng và nhịp sản xuất, rồi khuyến khích khách mang vật liệu thật tới chạy thử. Kho ba miền giao nhanh, hỗ trợ cung cấp vòi bắn và đầu trộn thay thế. Máy bơm keo được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Xem thêm nhóm cha máy bơm, đối chiếu với máy bơm dầu khi vật liệu chỉ nhớt mà không dính và không đóng rắn, và với máy bơm hóa chất khi vật liệu có tính ăn mòn.
Theo lượng ra mỗi nhịp và sai số giữa các nhịp, không theo lưu lượng lít mỗi giờ. Thêm hai con số nữa là dải điều chỉnh và số nhịp tối đa mỗi phút để bảo đảm máy theo kịp nhịp dây chuyền.
Đó là hiện tượng rỉ đuôi do keo đặc còn đàn hồi giãn ra sau khi ngắt. Xử lý bằng van đóng ngay tại đầu vòi, cơ cấu hút ngược một đoạn nhỏ, rút ngắn ống dẫn và hạ áp suất đẩy xuống mức vừa đủ.
Vì keo đặc lại khi nguội và loãng ra khi ấm. Xử lý bằng cách chỉnh lại cài đặt theo nhiệt độ trong ngày, hoặc dùng bộ gia nhiệt giữ vật liệu ở nhiệt độ cố định.
Giữ đúng tỷ lệ trộn, kiểm định kỳ bằng cách bắn ra hai cốc rồi cân, thay đầu trộn dùng một lần theo khuyến cáo và không để hệ dừng lâu khi vật liệu đã vào tới đầu trộn.
Bắt buộc với vật liệu đóng rắn. Keo còn lại trong ống và buồng bơm sẽ cứng qua đêm, và chi phí thông lại thường cao hơn giá trị vật liệu tiết kiệm được.
Hạt cứng mài mòn bề mặt tiếp xúc làm khe hở rộng dần và độ chính xác giảm theo thời gian. Ngoài ra hạt lắng xuống đáy thùng khi ngừng lâu nên cần khuấy hoặc tuần hoàn vật liệu.
Không nên. Phải thử bằng chính loại keo sẽ dùng, bắn hai mươi nhịp vào hai mươi cốc rồi cân. Chênh lệch giữa cốc nặng nhất và nhẹ nhất mới là sai số thật của hệ với vật liệu của bạn.
Nguồn gốc: Hoàng Phát Lighting
Xem thêm
