













Máy bơm dầu là máy bơm được thiết kế cho chất lỏng có độ nhớt cao hơn nước nhiều lần, dùng để chuyển nhớt động cơ, dầu diesel, dầu thủy lực, dầu thực vật và các chất lỏng nhờn khác. Điểm khác biệt gốc so với máy bơm nước nằm ở nguyên lý đẩy chất lỏng chứ không nằm ở công suất. Sản phẩm được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Câu hỏi hay gặp nhất ở nhóm này là dùng tạm máy bơm nước để bơm dầu có được không. Câu trả lời ngắn là không, và lý do không nằm ở chỗ máy yếu. Nó nằm ở một đại lượng mà bơm nước không phải quan tâm: độ nhớt.
Độ nhớt là mức độ chất lỏng chống lại việc bị làm cho chảy. Nước có độ nhớt rất thấp nên chảy dễ, còn dầu nhớt đặc có độ nhớt cao gấp hàng trăm lần.
Bơm ly tâm, tức kiểu bơm nước thông dụng, làm việc bằng cách quay cánh rất nhanh để hất chất lỏng ra ngoài rồi biến vận tốc thành áp suất. Cách này chỉ hiệu quả với chất lỏng loãng. Khi gặp chất lỏng nhớt, ba việc xảy ra cùng lúc.
Thứ nhất, chất lỏng không kịp lấp đầy buồng bơm. Cánh quay nhanh nhưng dầu chảy chậm nên buồng bơm bị hụt, máy quay không tải và không đẩy được gì.
Thứ hai, ma sát nội tại sinh nhiệt. Dầu bị xé trong buồng bơm sinh nhiệt lớn, làm nóng cả dầu lẫn máy.
Thứ ba, phần nước còn sót trong máy làm hỏng dầu. Máy bơm nước luôn còn ẩm, và với dầu thủy lực hay dầu biến thế thì lẫn nước là hỏng cả mẻ.
| Chất lỏng | Mức độ nhớt tương đối | Kiểu bơm phù hợp |
|---|---|---|
| Nước | Rất loãng | Ly tâm |
| Dầu diesel, dầu hỏa | Loãng, hơi nhờn | Bánh răng hoặc cánh gạt |
| Dầu thủy lực | Trung bình | Bánh răng |
| Nhớt động cơ mới | Đặc | Bánh răng cỡ lớn hoặc trục vít |
| Nhớt thải, dầu đặc nguội | Rất đặc | Trục vít, có gia nhiệt nếu cần |
| GHI NHỚ NHANH Bơm nước hất chất lỏng đi, bơm dầu ép chất lỏng đi. Đó là toàn bộ khác biệt. Bơm ly tâm cần chất lỏng tự chảy theo kịp cánh quay, còn bơm thể tích nhốt một lượng chất lỏng vào khoang rồi đẩy nó ra, nên chất lỏng đặc bao nhiêu cũng đi được, chỉ là đi chậm hơn. |
Nhóm bơm dùng cho dầu gần như đều thuộc loại bơm thể tích, tức là mỗi vòng quay chuyển đi một lượng chất lỏng cố định. Có ba kiểu phổ biến, mỗi kiểu mạnh ở một dải độ nhớt.
Hai bánh răng ăn khớp, dầu bị mang theo trong các khe răng đi vòng quanh vỏ rồi bị ép ra cửa xả. Kết cấu đơn giản nhất, ít chi tiết chuyển động, chịu được áp cao. Đây là kiểu phổ thông nhất cho nhớt động cơ và dầu thủy lực. Nhược điểm là kém chịu tạp chất cứng vì khe hở giữa răng và vỏ rất nhỏ.
Rôto lệch tâm mang các cánh trượt, thể tích khoang thay đổi khi quay để hút và đẩy. Chạy êm hơn bơm bánh răng và cho dòng chảy đều hơn. Hợp với dầu loãng như dầu diesel, dầu hỏa. Nhược điểm là cánh gạt mòn dần và cần thay theo chu kỳ.
Một hoặc nhiều trục vít quay trong vỏ, đẩy chất lỏng đi dọc trục. Cho dòng chảy rất đều, gần như không xung động, và xử lý được chất lỏng đặc nhất trong ba kiểu. Đây là lựa chọn cho nhớt thải và dầu đặc nguội. Đổi lại giá cao hơn.
| Tiêu chí | Bánh răng | Cánh gạt | Trục vít |
|---|---|---|---|
| Dải độ nhớt xử lý được | Rộng | Loãng tới trung bình | Rộng nhất |
| Độ đều của dòng chảy | Có xung nhẹ | Đều | Rất đều |
| Chịu tạp chất | Kém | Trung bình | Khá |
| Chi phí | Thấp nhất | Trung bình | Cao nhất |
| Chi tiết hao mòn chính | Bánh răng và bạc | Cánh gạt | Trục vít và lót vỏ |
Đây là điểm khiến việc chọn bơm dầu khó hơn chọn bơm nước: cùng một loại dầu, độ nhớt buổi sáng mùa lạnh và buổi trưa mùa nóng khác nhau rất nhiều.
Dầu nguội đặc hơn dầu ấm. Nhớt động cơ để ngoài trời qua đêm mùa lạnh có thể đặc gấp nhiều lần so với chính nó lúc trưa nắng. Máy bơm chọn theo điều kiện ấm sẽ ì ạch hoặc quá tải vào buổi sáng.
Nguyên tắc chọn: luôn chọn theo điều kiện XẤU NHẤT, tức là lúc dầu nguội nhất trong năm. Nếu chọn theo điều kiện trung bình thì mỗi mùa lạnh sẽ có vài tuần máy không làm việc được.
Ba cách xử lý khi dầu quá đặc lúc khởi động: một là chọn máy có dải độ nhớt rộng hơn nhu cầu, hai là gia nhiệt bể chứa hoặc gia nhiệt đường ống, ba là để máy chạy chậm lại lúc khởi động rồi tăng dần. Cách thứ hai tốn kém nhất nhưng ổn định nhất với dầu rất đặc.
Phần đường ống của bơm dầu có yêu cầu khác hẳn bơm nước, và bỏ qua phần này là nguyên nhân phổ biến khiến máy tốt vẫn không đạt lưu lượng công bố.
| Yêu cầu với ống hút | Lý do |
|---|---|
| Đường kính lớn hơn ống đẩy | Giảm tổn thất khi chất lỏng nhớt chảy vào |
| Càng ngắn càng tốt | Tổn thất tăng nhanh theo chiều dài với chất lỏng nhớt |
| Càng ít khúc co càng tốt | Mỗi khúc co làm mất áp nhiều hơn so với khi bơm nước |
| Đặt bể cao hơn máy nếu được | Cho dầu tự chảy vào, máy không phải hút |
| Lưới lọc đầu hút đủ thưa | Lưới quá mịn bị dầu đặc bịt kín ngay |
Cách bố trí lý tưởng cho dầu đặc là đặt bể chứa cao hơn máy để dầu tự chảy vào buồng bơm. Khi đó máy chỉ phải làm phần đẩy, không phải làm phần hút, và tuổi thọ tăng đáng kể. Với dầu rất đặc, cách này gần như bắt buộc.
| LƯU Ý KỸ THUẬT Bơm thể tích tuyệt đối không được chạy khi đường xả bị chặn. Khác với bơm ly tâm, bơm thể tích không có đường nào để chất lỏng quay vòng, nên nếu van xả đóng mà máy vẫn chạy thì áp suất tăng cho tới khi vỡ ống hoặc gãy trục. Vì vậy mọi hệ bơm thể tích đều phải có van an toàn xả về bể, và van đó phải được kiểm định kỳ chứ không lắp cho có. |
Đây là chi tiết nhỏ nhất trong máy nhưng là nguyên nhân của phần lớn ca rò rỉ sau vài tháng dùng.
Vấn đề nằm ở chỗ cao su có tính chọn lọc. Một loại cao su hợp với dầu khoáng có thể trương nở hoặc cứng giòn khi gặp dầu tổng hợp, dầu thực vật hoặc dầu có phụ gia mạnh. Khi gioăng trương nở thì máy kẹt, khi gioăng cứng giòn thì máy rò.
Cần hỏi rõ trước khi mua: vật liệu phớt trục và vật liệu gioăng, rồi đối chiếu với đúng loại dầu sẽ bơm. Nếu nhà cung cấp không trả lời được câu này thì đó là dấu hiệu đáng cân nhắc.
Với đơn vị bơm nhiều loại dầu khác nhau, giải pháp an toàn là chọn máy có phớt thuộc nhóm chịu được dải rộng, chấp nhận giá cao hơn, thay vì mua máy rẻ rồi thay phớt liên tục. Cũng nên chuẩn bị sẵn một bộ phớt dự phòng theo máy vì đây là chi tiết hao mòn.
Vết dầu rịn quanh trục ngay sau nắp bơm là dấu hiệu đầu tiên. Ban đầu chỉ là màng ẩm mỏng, sau đó thành giọt. Thay phớt lúc còn là màng ẩm thì rẻ, để tới lúc nhỏ giọt thì dầu đã lọt vào bạc đạn và thường phải thay cả cụm.
Với bơm nước, chạy khô vài phút thường chỉ làm hỏng phớt. Với bơm dầu, hậu quả nặng hơn nhiều vì chính dầu là chất bôi trơn cho các chi tiết bên trong.
Cơ chế hỏng: bánh răng hoặc cánh gạt quay sát vỏ với khe hở rất nhỏ, và lớp dầu mỏng giữa chúng vừa là chất được bơm vừa là màng bôi trơn. Mất dầu là mất màng bôi trơn, kim loại chạm kim loại, và chỉ cần vài chục giây là mặt răng bị xước hỏng vĩnh viễn.
Ba biện pháp chống chạy khô, nên có ít nhất một trong ba: phao báo mức thấp trong bể tự ngắt máy, cảm biến áp suất đầu đẩy ngắt khi áp tụt bất thường, hoặc quy trình vận hành bắt buộc kiểm mức dầu trước mỗi lần bật.
Với hệ chuyển dầu từ phuy, tình huống hay xảy ra nhất là phuy cạn mà người vận hành không để ý. Đây là lý do các hệ chuyên nghiệp luôn gắn phao hoặc cảm biến thay vì trông vào mắt người.
Không phải việc nào cũng cần máy chạy điện. Chọn đúng cấp thiết bị tiết kiệm được nhiều hơn là chọn đúng thương hiệu.
| Khối lượng công việc | Cấp thiết bị hợp lý |
|---|---|
| Rút vài lít mỗi lần, thỉnh thoảng | Bơm tay quay hoặc bơm tay bóp |
| Rút vài chục lít mỗi ngày | Bơm điện cỡ nhỏ gắn miệng phuy |
| Chuyển hàng trăm lít mỗi ca | Bơm điện cỡ vừa lắp cố định, có van an toàn |
| Chạy liên tục trong dây chuyền | Bơm lắp cố định kèm tủ điều khiển và bảo vệ chống chạy khô |
Bơm tay có ưu điểm mà bơm điện không có: không cần nguồn điện tại chỗ, nên dùng được ngay trong khu vực có hơi dầu mà không phải lo thiết bị điện gây tia lửa. Với việc rút dầu thỉnh thoảng ở kho ngoài trời, đây thường là lựa chọn hợp lý nhất cả về chi phí lẫn an toàn.
Bơm điện gắn miệng phuy là cấp phổ thông nhất ở xưởng sửa xe và kho nhỏ. Chọn loại có ống nhúng đủ dài chạm gần đáy phuy, vì ống ngắn thì luôn còn sót một lượng dầu không rút được.
Với hệ lắp cố định, ba thứ nên có ngay từ đầu là van an toàn xả về bể, đồng hồ áp ở đường đẩy và một van chặn ở đường hút để tháo máy bảo dưỡng mà không phải xả cạn bể. Ba chi tiết này rẻ khi lắp cùng lúc và đắt khi phải bổ sung sau.
Bơm dầu là thiết bị cơ khí có chi tiết hao mòn, nên lịch bảo dưỡng phải tính theo số giờ máy thực sự quay chứ không theo lịch treo tường.
Ba chi tiết hao mòn chính là phớt trục, bạc đỡ và bộ phận tạo thể tích, tức bánh răng, cánh gạt hoặc trục vít tùy kiểu máy. Cả ba đều mòn theo giờ chạy và theo mức sạch của dầu.
Lưới lọc đầu hút là chi tiết rẻ nhất nhưng quyết định tuổi thọ hai chi tiết đắt nhất. Hạt cứng lọt vào khe giữa bánh răng và vỏ sẽ cào xước bề mặt, và vết xước đó làm giảm hiệu suất vĩnh viễn. Vệ sinh lưới lọc theo chu kỳ ngắn là cách rẻ nhất để giữ máy.
Dấu hiệu máy đang xuống cấp: cùng một điều kiện mà thời gian bơm đầy một thùng dài dần ra, tiếng máy đổi từ đều sang có nhịp, hoặc nhiệt độ vỏ máy tăng hơn trước. Ba dấu hiệu này xuất hiện trước khi máy hỏng hẳn khá lâu, đủ thời gian để đặt phụ tùng thay thế.
Ghi lại giờ chạy là việc đơn giản nhưng ít nơi làm. Chỉ cần một đồng hồ đếm giờ gắn theo máy là biết khi nào tới hạn thay phớt, thay vì đợi tới lúc rò mới xử lý.
Dầu diesel, dầu hỏa và nhiều loại dung môi đều là chất lỏng dễ cháy, nên phần an toàn của nhóm này nặng hơn hẳn bơm nước.
Tĩnh điện là rủi ro bị xem nhẹ nhất. Chất lỏng chảy trong ống sinh ra điện tích, và nếu bể chứa cùng đường ống không được nối tiếp địa chung thì điện tích tích tụ rồi phóng tia lửa đúng ngay chỗ có hơi dầu. Nối tiếp địa toàn tuyến và nối liên kết giữa phuy, máy và bể nhận là yêu cầu bắt buộc chứ không phải tùy chọn.
Thiết bị điện tại khu vực có hơi dầu phải thuộc loại phù hợp với môi trường đó theo quy định hiện hành về an toàn cháy nổ. Không dùng động cơ điện thông thường, ổ cắm thông thường hay đèn chiếu sáng thông thường trong khu vực này.
Ba việc tối thiểu tại chỗ đặt máy: thông gió đủ để hơi dầu không tích tụ, khay hứng phía dưới máy để hứng rò rỉ, và bình chữa cháy phù hợp đặt trong tầm với. Chủ đầu tư nên yêu cầu đơn vị thi công dẫn chiếu căn cứ chính thức áp dụng cho chính khu vực của mình.
Giá phụ thuộc vào kiểu bơm, lưu lượng, áp suất làm việc, vật liệu tiếp xúc và loại động cơ kèm theo. Bảng dưới là khoảng giá tham khảo.
| Nhóm sản phẩm | Đặc điểm | Khoảng giá tham khảo |
|---|---|---|
| Bơm bánh răng cỡ nhỏ | Chuyển dầu từ phuy, xưởng sửa xe | 1.500.000 - 5.000.000 đ |
| Bơm bánh răng cỡ vừa | Trạm dầu, kho, dây chuyền | 5.000.000 - 15.000.000 đ |
| Bơm cánh gạt cho dầu loãng | Dầu diesel, dầu hỏa, cần dòng đều | 4.000.000 - 12.000.000 đ |
| Bơm trục vít cho dầu đặc | Nhớt thải, dầu đặc nguội | Liên hệ theo độ nhớt |
| Bộ bơm trọn cụm kèm động cơ và van an toàn | Lắp là chạy | Liên hệ theo cấu hình |
Với xưởng cơ khí, trạm dầu, đơn vị thi công và các đơn vị mua số lượng, chính sách chiết khấu theo cấp giá trị đơn hàng được áp dụng linh hoạt kèm hỗ trợ giao hàng ba miền. Với hệ chạy liên tục, nên đặt kèm một bộ phớt và một bộ gioăng dự phòng ngay từ đầu vì đây là chi tiết hao mòn theo giờ chạy. Khách gửi tên loại dầu, độ nhớt công bố, nhiệt độ thấp nhất lúc khởi động, lưu lượng cần và khoảng cách bơm sẽ nhận lại phương án kiểu bơm, vật liệu phớt cùng báo giá theo cấp.
Với nhóm hàng này, sai lầm tốn kém nhất không phải mua đắt mà là mua một chiếc máy không hợp với loại dầu sẽ bơm. Máy vẫn chạy được vài tuần rồi rò, kẹt hoặc xước bánh răng, và lúc đó thiệt hại gồm cả máy lẫn mẻ dầu bị nhiễm bẩn.
Sản phẩm có chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng, công bố rõ kiểu bơm, dải độ nhớt làm việc, lưu lượng, áp suất tối đa, vật liệu thân bơm, vật liệu phớt và gioăng. Với bơm dầu, dải độ nhớt và vật liệu tiếp xúc mới là hai thông số quyết định, và đây cũng là hai thông số hàng trôi nổi thường bỏ trống.
Đội kỹ thuật hỏi trước loại dầu cụ thể, nhiệt độ nơi đặt máy vào lúc lạnh nhất, bể chứa nằm cao hay thấp hơn máy và có tạp chất hay không, từ đó chốt kiểu bơm và vật liệu phớt trước khi chốt mã hàng. Kho ba miền giao nhanh, hỗ trợ cung cấp phớt và gioăng thay thế. Máy bơm dầu được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Xem thêm nhóm cha máy bơm, đối chiếu với máy bơm nước nếu chất lỏng cần chuyển là nước sinh hoạt, và với máy bơm hóa chất nếu chất lỏng có tính ăn mòn, vì khi đó vật liệu tiếp xúc mới là yếu tố quyết định chứ không phải độ nhớt.
Không. Bơm nước là loại ly tâm, cần chất lỏng loãng để chảy kịp theo cánh quay. Gặp dầu nhớt thì buồng bơm bị hụt, máy sinh nhiệt và không đẩy được. Ngoài ra nước còn sót trong máy sẽ làm hỏng mẻ dầu.
Bánh răng rẻ hơn và đủ dùng cho nhớt động cơ, dầu thủy lực. Trục vít cho dòng chảy đều nhất và xử lý được dầu đặc nhất, dùng cho nhớt thải hoặc dầu đặc nguội, đổi lại giá cao hơn.
Vì độ nhớt của dầu tăng mạnh khi nguội. Máy chọn theo điều kiện ấm sẽ quá tải lúc trời lạnh. Nên chọn theo điều kiện lạnh nhất trong năm, hoặc gia nhiệt bể chứa.
Bắt buộc. Bơm thể tích không có đường cho chất lỏng quay vòng, nên nếu đường xả bị chặn mà máy vẫn chạy thì áp suất tăng tới khi vỡ ống hoặc gãy trục.
Phớt trục đã mòn hoặc không hợp với loại dầu đang bơm. Thay lúc mới chỉ là màng ẩm thì rẻ; để tới lúc nhỏ giọt thì dầu đã lọt vào bạc đạn và thường phải thay cả cụm.
Cao hơn nếu có thể, để dầu tự chảy vào buồng bơm. Khi đó máy chỉ phải làm phần đẩy chứ không phải hút, tuổi thọ tăng rõ rệt. Với dầu rất đặc thì cách này gần như bắt buộc.
Phải nối tiếp địa toàn tuyến gồm phuy, máy và bể nhận để chống tĩnh điện, dùng thiết bị điện phù hợp môi trường có hơi dầu, thông gió đủ, có khay hứng và bình chữa cháy trong tầm với.
Nguồn gốc: Hoàng Phát Lighting
Xem thêm
