Phụ kiện ống là nhóm vật tư đi kèm tuyến ống luồn dây điện, gồm hộp nối chia hướng, lò xo uốn ống, băng keo cách điện và các chi tiết cố định tuyến. Danh mục phụ kiện ống tại Hoàng Phát Lighting hiện có gần chín mươi mã, phủ đủ bốn cỡ phi 16, phi 20, phi 25 và phi 32. Sản phẩm được phân phối chính hãng bởi Hoàng Phát Lighting - Đại lý cấp 1 Nanoco tại Việt Nam.
Đây là nhóm hàng bị coi nhẹ nhất trong toàn bộ hạng mục điện, thường được mua sau cùng và mua theo cảm tính. Nhưng có một câu hỏi mà chỉ phụ kiện mới trả lời được: mười năm sau, khi cần thay một sợi dây hỏng, bạn rút được dây cũ ra và luồn dây mới vào, hay phải đục tường. Câu trả lời đã được quyết định ngay lúc chọn phụ kiện, chứ không phải lúc chọn ống.
Mã hộp nối của Nanoco được đặt theo một quy tắc rất chặt, đọc được là biết ngay đang cầm cái gì trên tay.
| Nhóm mã | Là hộp nối | Dùng ở vị trí |
|---|---|---|
| NPA65 | 1 ngã | Điểm cuối tuyến, nơi dây đi vào thiết bị |
| NPA66 | 2 ngã thẳng | Nối dài tuyến, đặt điểm kiểm tra giữa đoạn dài |
| NPA69 | 2 ngã vuông | Chỗ tuyến bẻ góc 90 độ |
| NPA67 | 3 ngã | Chỗ rẽ một nhánh ra khỏi tuyến chính |
| NPA68 | 4 ngã | Giao nhau, rẽ hai nhánh về hai phía |
Ba chữ số cuối là đường kính ống. Mã NPA68321 là hộp bốn ngã dùng cho ống phi 32, NPA67161 là hộp ba ngã cho ống phi 16. Nắm quy tắc này thì việc lập danh sách vật tư cho cả công trình chỉ còn là bài toán đếm.
Nhóm lò xo uốn ống mang mã FLXUO, theo sau là đường kính rồi tới hậu tố chỉ chiều dài lò xo. Ví dụ FLXUO32L và FLXUO32M2 cùng dùng cho ống phi 32 nhưng khác nhau ở chiều dài đoạn lò xo. Lò xo dài luồn sâu vào ống được nên uốn được ở vị trí xa đầu ống, lò xo ngắn gọn nhẹ và đủ dùng cho các khúc uốn gần đầu.
Nhóm băng keo cách điện mang mã FKPC, phân biệt theo quy cách cuộn. Đây là vật tư tiêu hao, nên mua theo hộp thay vì mua lẻ từng cuộn.
| GHI NHỚ NHANH Trước khi đặt hàng, cầm bản vẽ tuyến điện rồi đếm ba con số: bao nhiêu điểm cuối tuyến, bao nhiêu chỗ bẻ góc, bao nhiêu chỗ rẽ nhánh. Ba con số đó cho ra ngay số hộp 1 ngã, 2 ngã vuông và 3 ngã cần mua. Đếm mất mười lăm phút nhưng tránh được việc thiếu vật tư giữa lúc thi công, vốn là nguyên nhân số một khiến thợ nối tắt cho xong. |
Khi tuyến ống cần đổi hướng, có hai cách làm và chúng cho hai kết quả rất khác nhau về sau.
Ống đi tới hộp, dừng lại, dây được luồn qua khoang hộp rồi đi tiếp theo hướng mới. Ưu điểm lớn nhất là khoang hộp trở thành một điểm mở được: nắp hộp tháo ra là chạm tới dây, kéo dây mới cũng dễ vì lực kéo chia thành hai đoạn ngắn thay vì một đoạn dài có khúc gấp.
Ống được uốn liền một khúc cong, không có mối ngắt. Ưu điểm là ít mối nối hơn nên ít điểm có thể lọt ẩm, và nhìn gọn hơn. Nhược điểm là khúc cong trở thành một điểm ma sát vĩnh viễn, và nếu bán kính uốn quá gấp thì việc kéo dây mới về sau gần như không thể.
| Tiêu chí | Hộp nối 2 ngã vuông | Uốn bằng lò xo |
|---|---|---|
| Kéo lại dây sau này | Dễ, chia thành đoạn ngắn | Khó, phụ thuộc bán kính uốn |
| Số điểm có thể lọt ẩm | Nhiều hơn | Ít hơn |
| Tốc độ thi công | Nhanh, lắp là xong | Chậm, phải uốn từng khúc |
| Chi phí vật tư | Cao hơn | Thấp hơn |
| Hợp với | Tuyến trong nhà, cần bảo trì | Tuyến ngắn, chỗ khó đặt hộp |
Quy tắc chọn thực dụng: tuyến nào có khả năng phải sửa chữa hoặc nâng cấp trong tương lai thì dùng hộp nối. Tuyến nào chôn kín và chạy ngắn thì uốn bằng lò xo cho gọn. Với nhà ở, hầu hết các tuyến thuộc nhóm thứ nhất.
Khi chọn cách uốn, đây là con số phải nhớ. Uốn quá gấp thì ống không gãy ngay, nhưng thành ống bị bẹp ở mặt trong khúc cong, tiết diện thông thủy giảm và dây bị kẹt.
| Đường kính ống | Bán kính uốn nên giữ tối thiểu | Nghĩa là khúc cong rộng cỡ |
|---|---|---|
| Phi 16 | Khoảng 100mm | Bằng gang tay |
| Phi 20 | Khoảng 125mm | Rộng hơn gang tay chút |
| Phi 25 | Khoảng 155mm | Bằng chiều dài bàn tay |
| Phi 32 | Khoảng 200mm | Bằng chiều rộng viên gạch men |
Cách nhớ nhanh: bán kính uốn giữ ở khoảng sáu lần đường kính ống là an toàn cho mọi cỡ. Uốn gấp hơn thì phải chấp nhận việc sau này không rút được dây, và nên chuyển sang dùng hộp nối 2 ngã vuông.
Số khúc uốn giữa hai hộp nối cũng là một giới hạn cần tôn trọng. Mỗi khúc cong làm tăng lực ma sát khi kéo dây theo cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng. Thực tế thi công cho thấy quá ba khúc uốn 90 độ giữa hai điểm mở là lúc việc kéo dây bắt đầu cần hai người và bắt đầu có nguy cơ tróc vỏ dây.
| LƯU Ý KỸ THUẬT Không bao giờ uốn ống nguội bằng tay không mà không có lò xo bên trong. Ống nhựa uốn suông sẽ bẹp và gấp nếp ở mặt trong khúc cong, tiết diện thông thủy có thể mất tới một nửa. Nhìn từ ngoài ống vẫn cong đẹp, nhưng bên trong đã thắt lại. Lò xo uốn ống tồn tại chính là để chống lại hiện tượng này: nó đỡ thành ống từ bên trong trong lúc uốn. |
Lò xo uốn ống là dụng cụ rẻ nhất trong bộ vật tư nhưng quyết định chất lượng khúc uốn.
Bước một, chọn lò xo đúng phi. Lò xo phải vừa khít lòng ống, lỏng quá thì không đỡ được thành ống, chặt quá thì không rút ra nổi sau khi uốn. Không có chuyện dùng lò xo phi 20 cho ống phi 25.
Bước hai, đẩy lò xo vào đúng vị trí cần uốn. Đoạn lò xo phải phủ qua toàn bộ khúc cong dự kiến và dư ra mỗi bên vài centimét. Đây là lúc chiều dài lò xo có ý nghĩa: khúc uốn nằm sâu trong đoạn ống dài thì cần lò xo dài.
Bước ba, uốn từ từ và uốn quá một chút. Nhựa có tính đàn hồi nên sau khi buông tay, ống sẽ bật lại khoảng năm tới mười độ. Uốn quá góc cần thiết một chút rồi buông là vừa đúng.
Bước bốn, rút lò xo bằng cách vừa xoay vừa kéo. Xoay theo chiều làm lò xo thu nhỏ đường kính lại thì rút rất nhẹ. Kéo thẳng mà không xoay là cách làm kẹt lò xo trong ống.
Với ống cứng và trời lạnh, có thể hơ ấm nhẹ đoạn cần uốn bằng khí nóng trước khi uốn. Ấm nhẹ thôi, không tới mức nhựa mềm nhũn, vì mềm quá thì lò xo cũng không giữ được hình dạng.
Một tuyến ống là một chuỗi mắt xích, và toàn tuyến chỉ tốt bằng mắt xích nhỏ nhất.
Lỗi hay gặp nhất là mua ống phi 25 cho tuyến chính nhưng lại mua hộp nối phi 20 vì rẻ hơn và sẵn hàng. Kết quả là chỗ vào hộp phải gọt bớt ống hoặc nhét ép, mối nối hở, và tiết diện thông thủy thắt lại đúng ngay điểm cần rộng nhất.
Nguyên tắc phải giữ: ống, hộp nối, kẹp đỡ và mọi chi tiết trên cùng một tuyến phải cùng một cỡ phi. Khi bắt buộc phải đổi cỡ giữa chừng, việc đổi cỡ phải diễn ra BÊN TRONG một hộp nối, chứ không phải ở giữa đoạn ống trần.
Chọn phi cho tuyến dựa trên số sợi dây và tiết diện dây, với nguyên tắc chung là dây chỉ nên chiếm khoảng 40 phần trăm tiết diện lòng ống. Phần trống còn lại không phải lãng phí mà là phần dành cho việc tản nhiệt và cho việc kéo dây. Cách chọn cỡ ống cho từng loại tuyến được nói kỹ hơn ở nhóm ống luồn thẳng.
| MẸO CHUYÊN GIA Khi luồn dây lần đầu, luôn kéo theo một sợi dây mồi bằng thép hoặc một sợi dây nhựa dự phòng và để nguyên trong ống. Sợi mồi đó nằm im suốt đời tuyến, không tốn kém gì, nhưng ngày nào cần thay dây thì nó biến việc đục tường thành việc buộc dây mới vào đầu mồi rồi kéo. Đây là mười nghìn đồng vật tư đổi lấy vài triệu tiền công về sau. |
Hộp nối không chỉ để rẽ hướng mà còn là điểm mở phục vụ bảo trì. Vị trí đặt quyết định sau này việc sửa chữa dễ hay khó.
Bốn vị trí bắt buộc phải có hộp: mọi điểm rẽ nhánh, mọi chỗ đổi hướng nếu không uốn ống, mọi điểm cuối nơi dây đi vào thiết bị, và mọi chỗ nối dây. Nguyên tắc tuyệt đối là không có mối nối dây nào nằm ngoài hộp, kể cả mối nối đã bọc kín.
Vị trí nên có thêm hộp dù không bắt buộc: giữa các đoạn thẳng dài. Với tuyến chạy thẳng quá mười mét, đặt thêm một hộp 2 ngã thẳng ở khoảng giữa để chia lực kéo. Chi phí thêm một hộp rất nhỏ so với việc phải kéo dây qua một đoạn dài liên tục.
Chiều cao đặt hộp trong nhà nên thống nhất theo một hoặc hai cao độ cố định trên toàn công trình, ví dụ ngang cao độ công tắc và ngang cao độ trần. Thống nhất cao độ giúp người bảo trì sau này dò tuyến bằng mắt thay vì dò bằng máy.
Hộp bị trát kín là lỗi phổ biến khi hoàn thiện. Trước khi thợ hồ tô tường, phải đánh dấu vị trí mọi hộp lên bản vẽ hoàn công và chụp ảnh lại. Hộp nằm sau lớp vữa mà không ai biết ở đâu thì coi như không tồn tại.
Hộp nối và phụ kiện nằm khuất trong tường hoặc trên trần, không ai nhìn tới sau khi hoàn thiện, nên đây là chỗ hàng kém dễ lọt vào nhất. Ba phép thử dưới đây làm được ngay tại quầy, không cần dụng cụ.
Phép thử thứ nhất, bóp mép hộp. Cầm hộp nối trên tay và bóp mạnh vào thành. Nhựa tốt biến dạng rồi bật lại nguyên hình. Nhựa pha nhiều bột đá sẽ kêu rắc và để lại vết trắng ở chỗ bóp, đó là dấu hiệu vật liệu đã nứt vi mô. Loại này gãy vỡ ngay khi thợ vặn vít hơi mạnh tay.
Phép thử thứ hai, nhìn mép cắt và mép ren. Mép phải sắc gọn, không có ba via, không có vết nhám. Mép nhám cho thấy khuôn đã mòn hoặc nhựa nguội không đều, và cùng một mã sẽ có sai lệch kích thước giữa các lô, dẫn tới chuyện hộp lô này lắp vừa ống mà lô kia lại chặt.
Phép thử thứ ba, lắp thử ống vào hộp. Ống phải trượt vào rồi dừng lại chắc chắn, không lỏng lẻo cũng không phải dùng lực đóng. Đây là phép thử quan trọng nhất và cũng là phép thử ít người làm nhất khi mua.
Phụ kiện điện dùng trong nhà nên là loại nhựa có khả năng tự dập lửa, tức là khi rời khỏi nguồn lửa thì ngọn lửa tắt chứ không tiếp tục cháy lan theo tuyến. Đây là thông số được công bố trong tài liệu kỹ thuật của hàng chính hãng và bị bỏ trống ở hàng trôi nổi. Với tuyến chạy trong trần thạch cao hoặc trong hộp kỹ thuật chung cư, đây là thông số cần hỏi rõ chứ không phải chi tiết phụ.
Phụ kiện dùng cho tuyến phơi nắng phải là loại có bổ sung chất chống tia cực tím. Loại thường dùng ngoài trời sẽ bạc màu rồi giòn dần sau một tới hai mùa nắng, và vỡ vụn ngay lần đầu có vật va vào. Dấu hiệu nhận biết đơn giản nhất là màu: loại chịu nắng gần như luôn có màu đen hoặc xám đậm.
Bảng dưới là cách quy đổi từ bản vẽ ra danh sách đặt hàng, áp dụng được cho cả nhà ở lẫn công trình nhỏ.
| Đếm trên bản vẽ | Vật tư tương ứng | Hệ số dự phòng |
|---|---|---|
| Số thiết bị đầu cuối | Hộp nối 1 ngã | Cộng 10 phần trăm |
| Số chỗ bẻ góc | Hộp 2 ngã vuông hoặc lò xo uốn | Cộng 15 phần trăm |
| Số điểm rẽ nhánh | Hộp nối 3 ngã | Cộng 15 phần trăm |
| Số chỗ giao nhau | Hộp nối 4 ngã | Cộng 10 phần trăm |
| Tổng chiều dài tuyến | Ống theo cây, kẹp đỡ mỗi 1 mét | Cộng 20 phần trăm |
| Số mối nối dây | Băng keo cách điện và ống bọc mối nối | Cộng 30 phần trăm |
Riêng phần xử lý mối nối bên trong hộp, ngoài băng keo cách điện còn nên chuẩn bị ống co nhiệt đủ cỡ, vì mối nối bọc bằng ống co nhiệt bền hơn nhiều so với chỉ quấn băng keo. Với tuyến đi nổi trên tường đã hoàn thiện thì không dùng ống tròn mà chuyển sang nẹp điện, và bộ phụ kiện đi kèm cũng khác. Tuyến phải luồn qua chỗ uốn lượn nhiều thì nên tính tới ống gân xoắn ngay từ đầu để giảm số hộp nối cần dùng.
Giá phụ thuộc vào chủng loại phụ kiện, đường kính và chất lượng nhựa. Bảng dưới là khoảng giá tham khảo.
| Nhóm sản phẩm | Đặc điểm | Khoảng giá tham khảo |
|---|---|---|
| Hộp nối tròn phi 16, phi 20 | Từ 1 tới 4 ngã, dùng dân dụng | 5.000 - 20.000 đ mỗi cái |
| Hộp nối tròn phi 25, phi 32 | Từ 1 tới 4 ngã, tuyến chính | 15.000 - 45.000 đ mỗi cái |
| Lò xo uốn ống | Đủ phi 16 tới phi 32, hai chiều dài | 40.000 - 180.000 đ mỗi cái |
| Băng keo cách điện | Vật tư tiêu hao, mua theo hộp | 5.000 - 15.000 đ mỗi cuộn |
| Bộ phụ kiện trọn tuyến | Đặt theo bảng thống kê công trình | Liên hệ theo khối lượng |
Với nhà thầu điện, đơn vị thi công và các đơn vị mua số lượng, chính sách chiết khấu theo cấp giá trị đơn hàng được áp dụng linh hoạt kèm hỗ trợ giao hàng ba miền. Với công trình, nên đặt trọn bộ phụ kiện cùng lúc với ống để bảo đảm đồng bộ cỡ phi và cùng một hãng, tránh tình trạng chắp vá giữa chừng. Khách gửi bản vẽ tuyến điện hoặc bảng thống kê số điểm rẽ, số góc và tổng chiều dài sẽ nhận lại danh sách vật tư chi tiết theo từng mã cùng báo giá theo cấp.
Với nhóm hàng này, rủi ro lớn nhất không phải mua đắt mà là mua thiếu mã. Thiếu một loại hộp nối giữa lúc thi công thì thợ sẽ tự xoay xở bằng cách nối tắt hoặc đục thêm, và cái xoay xở đó nằm lại trong tường suốt đời công trình.
Danh mục phụ kiện ống Nanoco có gần chín mươi mã, phủ trọn năm kiểu hộp nối từ 1 ngã tới 4 ngã ở cả bốn cỡ phi 16, phi 20, phi 25 và phi 32, kèm lò xo uốn ống và băng keo cách điện. Đặt trọn bộ tại một nguồn bảo đảm mọi chi tiết khớp nhau về dung sai, điều mà việc mua chắp vá nhiều hãng không bảo đảm được.
Sản phẩm có chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng, công bố rõ đường kính danh nghĩa, vật liệu, cấp chống cháy lan và khả năng chịu va đập. Đội kỹ thuật đọc bản vẽ tuyến cùng khách, đếm ra số hộp từng loại và tính hệ số dự phòng thay vì bán theo số lượng khách đọc. Kho ba miền giao nhanh, hỗ trợ bổ sung mã lẻ khi công trình phát sinh. Phụ kiện ống được phân phối chính hãng bởi Hoàng Phát Lighting - Đại lý cấp 1 Nanoco tại Việt Nam.
Xem thêm nhóm cha ống luồn dây điện để chọn trọn bộ vật tư cho một tuyến đi dây hoàn chỉnh.
Hộp 3 ngã có ba hướng ra, dùng khi tuyến chính rẽ một nhánh. Hộp 4 ngã có bốn hướng ra, dùng ở chỗ hai tuyến giao nhau hoặc khi cần rẽ hai nhánh về hai phía từ cùng một điểm.
Tuyến có khả năng phải sửa hoặc nâng cấp về sau thì dùng hộp nối vì kéo lại dây dễ hơn nhiều. Tuyến ngắn, chôn kín, không cần bảo trì thì uốn bằng lò xo cho gọn và rẻ hơn.
Giữ khoảng sáu lần đường kính ống là an toàn cho mọi cỡ, tức khoảng 100mm với phi 16 và khoảng 200mm với phi 32. Uốn gấp hơn thì thành ống bẹp và sau này không rút được dây.
Không nên. Ống uốn suông sẽ gấp nếp và bẹp ở mặt trong khúc cong, tiết diện thông thủy có thể mất tới một nửa dù nhìn từ ngoài vẫn cong đẹp. Lò xo tồn tại chính là để đỡ thành ống từ bên trong.
Không nên quá ba khúc uốn 90 độ. Mỗi khúc làm lực ma sát khi kéo dây tăng theo cấp số nhân, quá ba khúc là lúc phải cần hai người kéo và có nguy cơ tróc vỏ dây.
Có. Chỗ vào hộp sẽ hở hoặc phải nhét ép, tiết diện thông thủy thắt lại đúng nơi cần rộng nhất. Ống, hộp nối và kẹp đỡ trên cùng một tuyến phải cùng cỡ phi.
Bắt buộc đặt tại mọi điểm rẽ, đổi hướng, điểm cuối và mọi chỗ nối dây. Với đoạn thẳng dài quá mười mét, nên đặt thêm một hộp 2 ngã thẳng ở giữa để chia lực kéo dây.
Nguồn gốc: Hoàng Phát Lighting
Xem thêm