













Ống co nhiệt là ống nhựa cách điện được chế tạo ở trạng thái giãn nở, khi nung nóng tới khoảng 90 tới 120 độ C thì co lại ôm chặt vào vật bên trong. Mỗi cỡ ống co nhiệt có hai đường kính: đường kính khi chưa co và đường kính nhỏ nhất sau khi co hết. Sản phẩm được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Đây là nhóm vật tư mà người mua hay chọn sai nhất trong toàn bộ ngành ống luồn dây điện, vì trên bao bì chỉ ghi một con số duy nhất, ví dụ phi 10. Con số đó là đường kính khi chưa co, còn thứ quyết định mối nối có chặt hay không lại là đường kính sau khi co. Hai con số này tạo thành một khoảng, gọi là cửa sổ đường kính, và mối nối của bạn phải nằm gọn trong khoảng đó.
Mỗi đoạn ống co nhiệt chỉ dùng được cho các vật có đường kính nằm giữa hai mốc. Trên mốc lớn thì không lồng vào được. Dưới mốc nhỏ thì co hết cỡ mà vẫn còn lỏng, ống nhăn và tuột.
| Cỡ ghi trên bao bì | Đường kính trước khi co | Đường kính nhỏ nhất sau khi co (tỷ lệ 2:1) | Dùng cho vật có đường kính |
|---|---|---|---|
| Phi 3 | 3mm | 1,5mm | 1,8 đến 2,7mm |
| Phi 6 | 6mm | 3mm | 3,6 đến 5,4mm |
| Phi 10 | 10mm | 5mm | 6 đến 9mm |
| Phi 16 | 16mm | 8mm | 9,6 đến 14,4mm |
| Phi 25 | 25mm | 12,5mm | 15 đến 22,5mm |
| Phi 40 | 40mm | 20mm | 24 đến 36mm |
Cột cuối cùng là cột quan trọng nhất và cũng là cột không nhà sản xuất nào in lên bao bì. Nó được tính theo hai giới hạn thực dụng: không lồng vật lớn quá 90 phần trăm đường kính trước co, và không dùng cho vật nhỏ hơn 120 phần trăm đường kính sau co.
Vì sao phải chừa hai mép an toàn đó. Mép trên là để lồng ống vào còn dễ, nhất là khi phải lồng qua đầu cốt hoặc qua chỗ dây đã bị bẻ. Mép dưới là để ống còn dư sức co mà ôm chặt, chứ nếu co tới sát giới hạn thì lực ép gần bằng không và ống chỉ đứng yên nhờ ma sát.
| GHI NHỚ NHANH Quy tắc chọn cỡ trong một câu: lấy đường kính chỗ to nhất mà ống phải trượt qua, nhân với 1,2 rồi làm tròn lên cỡ có sẵn. Ví dụ mối nối chỗ to nhất là 8mm thì lấy 8 nhân 1,2 bằng 9,6, chọn phi 10. Đừng chọn phi 16 cho chắc, vì co xong ống sẽ nhăn và không ôm đều. |
Tỷ lệ co cho biết ống thu nhỏ được bao nhiêu lần so với kích thước ban đầu. Đây là thông số phân loại chính của nhóm hàng này.
| Tỷ lệ co | Nghĩa là | Dùng khi |
|---|---|---|
| 2:1 | Co còn một nửa đường kính ban đầu | Mối nối đều, dây cùng cỡ, đa số việc dân dụng |
| 3:1 | Co còn một phần ba | Mối nối có chỗ phình, đầu cốt to hơn thân dây |
| 4:1 | Co còn một phần tư | Chuyển tiếp giữa hai cỡ dây chênh lệch nhiều |
Tỷ lệ co lớn giải quyết bài toán bậc thang. Khi một đầu dây có đầu cốt phình to còn phần thân dây thì nhỏ, ống tỷ lệ 2:1 sẽ ôm chặt phần đầu cốt nhưng vẫn còn hở ở phần thân. Ống tỷ lệ 3:1 hoặc 4:1 co được cả hai đoạn trong một lần, cho một mối nối liền mạch không có khe hở.
Đổi lại, tỷ lệ co càng lớn thì thành ống sau khi co càng dày ở phần bị co nhiều, làm mối nối cứng hơn và cồng kềnh hơn. Với chỗ chật hẹp trong tủ điện hoặc trong hộp nối, ống 2:1 chọn đúng cỡ vẫn gọn hơn ống 4:1.
Ống co nhiệt cần nhiệt độ khoảng 90 tới 120 độ C phân bố đều quanh chu vi. Cách gia nhiệt quyết định mối nối đẹp hay cháy sém.
Đây là dụng cụ dành riêng cho việc này. Khí nóng ra đều, không có ngọn lửa, nhiệt độ điều chỉnh được. Cách làm đúng là giữ đầu súng cách ống khoảng 3 tới 5 centimét, xoay đều quanh ống, và bắt đầu từ GIỮA đoạn ống rồi tiến dần ra hai đầu.
Với ống phi nhỏ và tỷ lệ 2:1, máy sấy tóc công suất cao vẫn co được nhưng chậm và không đều. Chỉ nên dùng khi không có súng khò và mối nối không quan trọng.
Ngọn lửa trực tiếp cho nhiệt độ vượt xa mức cần thiết ở điểm chạm, làm ống cháy thủng hoặc chai cứng trước khi co đều. Mối nối trông có vẻ xong nhưng lớp cách điện đã bị phá hủy cục bộ, và đó chính là chỗ sẽ phóng điện sau này.
| LƯU Ý KỸ THUẬT Luôn co từ GIỮA ra hai đầu, không bao giờ co từ một đầu chạy dần sang đầu kia. Co từ một đầu sẽ nhốt không khí lại bên trong, tạo bọng khí phồng lên giữa ống. Bọng khí đó là một túi ẩm chờ sẵn, và với ống có lớp keo thì nó còn ngăn keo chảy đều. Co từ giữa ra thì không khí thoát được về cả hai phía. |
Đây là phân loại thứ hai của nhóm hàng, và nó quyết định mối nối có kín nước hay không.
Loại không keo chỉ có một lớp nhựa. Khi co, nó ôm chặt vào vật nhưng vẫn còn đường mao dẫn dọc theo bề mặt dây. Nước và hơi ẩm vẫn len vào được theo đường đó. Loại này dùng cho mối nối trong nhà, trong tủ điện khô, và cho việc đánh dấu phân biệt dây.
Loại có lớp keo trong có thêm một lớp keo nóng chảy tráng ở mặt trong. Khi gia nhiệt, keo chảy ra và lấp đầy mọi khe hở giữa ống và dây, kể cả khe giữa các sợi đồng nếu dây bị tước hở. Sau khi nguội, keo đông lại thành một khối kín.
| Tình huống | Nên chọn |
|---|---|
| Nối dây trong tủ điện trong nhà | Không keo |
| Đánh dấu, phân biệt dây theo màu | Không keo |
| Mối nối ngoài trời, dưới mái hiên | Có keo |
| Mối nối trong hộp âm tường có nguy cơ ẩm | Có keo |
| Nối dây bơm nước, dây đèn sân vườn | Có keo |
| Mối nối chôn ngầm hoặc có thể ngập | Có keo, thành dày |
Dấu hiệu nhận biết đã co đủ với loại có keo: phải thấy một viền keo trong nhỏ trào ra ở hai mép ống. Nếu không thấy viền keo, nghĩa là nhiệt chưa đủ để keo chảy hết, và mối nối vẫn hở dù ống đã ôm chặt.
Ống co nhiệt có nhiều màu, và trong nghề điện màu sắc mang thông tin chứ không phải để trang trí.
Màu đen là màu mặc định cho mối nối thông thường, và cũng là màu duy nhất có khả năng chịu tia cực tím tốt khi phải phơi ngoài trời. Với mối nối ngoài trời, chọn đen chứ không chọn màu sáng.
Màu theo quy ước pha dùng để đánh dấu dây trong tủ điện, giúp người bảo trì sau này nhận ra pha ngay mà không phải dò. Cách làm phổ biến là bọc một đoạn ngắn khoảng 2 centimét ở hai đầu mỗi sợi dây.
Màu vàng sọc xanh dành riêng cho dây tiếp địa và tuyệt đối không dùng cho mục đích khác. Đây là quy ước được tôn trọng trong toàn ngành và việc dùng sai màu này gây nguy hiểm thật cho người sửa chữa sau.
Ống trong suốt có công dụng riêng: bọc lên chỗ nối để vẫn nhìn thấy được bên trong. Rất hữu ích khi cần kiểm tra mối hàn hoặc khi bọc lên nhãn giấy ghi thông tin mạch.
Hai vật tư này thường bị coi là thay thế được cho nhau. Thực tế mỗi cái mạnh ở một tình huống khác nhau.
| Tiêu chí | Ống co nhiệt | Băng keo cách điện |
|---|---|---|
| Độ kín | Kín hoàn toàn nếu có keo | Có khe theo mép quấn |
| Tuổi thọ | Không bong theo thời gian | Keo lão hóa, mép bong sau vài năm |
| Lắp sau khi dây đã đấu | Không, phải lồng trước | Được, quấn bất cứ lúc nào |
| Cần dụng cụ | Cần nguồn nhiệt | Không cần gì |
| Sửa lại | Phải cắt bỏ và làm lại | Tháo ra quấn lại được |
Điểm yếu lớn nhất của ống co nhiệt nằm ở dòng thứ ba: phải lồng ống vào dây TRƯỚC khi đấu nối. Quên bước này thì đấu xong không còn cách nào lồng ống vào nữa, phải tháo mối nối ra làm lại. Đây là lỗi mà thợ nào cũng mắc ít nhất một lần.
Băng keo cách điện và các vật tư đi kèm tuyến ống thuộc nhóm phụ kiện ống, dùng bổ trợ cho nhau chứ không thay thế nhau.
| MẸO CHUYÊN GIA Khi đấu nối mà chưa chắc mối nối có đạt hay không, hãy lồng sẵn ống co nhiệt vào dây rồi đẩy nó lùi ra xa chỗ nối khoảng 20 centimét và dùng một miếng băng dính giữ tạm. Đấu xong, đo kiểm, chắc chắn đạt rồi mới kéo ống về vị trí và gia nhiệt. Cách này giúp bạn không bao giờ quên lồng ống, mà vẫn thử lại mối nối thoải mái trước khi chốt. |
Thứ nhất, quên lồng ống trước khi đấu nối. Lỗi phổ biến nhất và tốn công nhất, vì phải tháo mối nối ra làm lại từ đầu.
Thứ hai, chọn cỡ quá lớn cho chắc. Ống co hết cỡ mà vẫn còn dư sẽ nhăn thành nếp, mỗi nếp là một khe hở, và mối nối trông rất xấu.
Thứ ba, cắt ống quá ngắn. Ống phải phủ qua mỗi bên mối nối ít nhất 15 tới 20 milimét trên phần vỏ dây còn nguyên. Ống chỉ vừa đúng chỗ nối thì hai đầu vẫn hở phần đồng.
Thứ tư, dùng ngọn lửa trực tiếp. Cháy sém bề mặt và làm chai lớp nhựa, phá đúng cái tính chất cách điện mà ta đang cần.
Thứ năm, co khi dây còn ẩm hoặc còn dầu mỡ. Ẩm bị nhốt lại bên trong, dầu mỡ làm keo không bám. Lau khô và lau sạch trước khi co là bước bắt buộc.
Thứ sáu, uốn cong mối nối ngay khi ống còn nóng. Nhựa lúc đó còn mềm, uốn sẽ làm ống mỏng đi một phía. Phải chờ nguội hẳn khoảng một phút rồi mới nắn dây.
Có hai mốc nhiệt độ hoàn toàn khác nhau ở nhóm hàng này, và nhầm lẫn giữa chúng dẫn tới chọn sai chỗ dùng.
Mốc thứ nhất là nhiệt độ co, khoảng 90 tới 120 độ C, chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong đời ống, lúc thi công. Mốc thứ hai là dải nhiệt độ làm việc liên tục sau khi đã co, thường được công bố trong khoảng âm 55 tới 125 độ C với ống nhựa thông dụng. Ống chịu được dải rộng như vậy nhưng vẫn có giới hạn thật.
Hệ quả thực tế: không dùng ống co nhiệt thông thường cho mối nối nằm sát nguồn nhiệt liên tục vượt mốc trên, ví dụ trong khoang gần bộ nguồn công suất lớn hoặc sát ống khói. Ở những chỗ đó cần loại chịu nhiệt cao chuyên dụng, và phải hỏi rõ dải nhiệt công bố trước khi mua.
Ngược lại, môi trường lạnh sâu cũng là một giới hạn. Với kho lạnh, nhựa ở nhiệt độ rất thấp trở nên giòn và có thể nứt khi dây bị rung hoặc bị nắn. Đây là lý do mối nối trong kho lạnh nên cố định chắc thay vì để dây tự do đung đưa.
Quá trình co là thay đổi cấu trúc một chiều, không đảo ngược. Gia nhiệt lại chỉ làm ống chai và biến dạng chứ không giãn về kích thước ban đầu. Vì vậy khi cần sửa mối nối, cách duy nhất là rạch bỏ đoạn ống cũ và dùng đoạn mới. Nên rạch bằng dao mỏng theo chiều dọc và rạch nông, tránh cứa vào lớp vỏ dây bên dưới.
Ống chưa co phải tránh ba thứ: nắng trực tiếp, nguồn nhiệt và lực ép. Nắng và nhiệt làm ống co dần ngay trong kho, tới lúc đem ra dùng thì đường kính đã nhỏ hơn ghi trên bao bì và không lồng vừa nữa. Lực ép làm ống bẹp thành nếp, và nếp đó vẫn còn sau khi co. Cách cất đúng là để cuộn nằm ngang trong hộp kín, nơi khô mát, không chồng vật nặng lên trên.
Ống co nhiệt không đứng riêng mà là một mắt xích trong tuyến đi dây. Hiểu vị trí của nó giúp mua đủ vật tư ngay từ đầu.
Tuyến đi dây điển hình gồm phần ống bảo vệ chạy dọc theo tường hoặc trong trần, phần hộp nối ở các điểm rẽ nhánh, và phần xử lý mối nối bên trong hộp. Ống co nhiệt thuộc phần thứ ba, tức là phần nhỏ nhất về khối lượng nhưng quyết định nhất về an toàn.
Phần ống bảo vệ chọn theo môi trường lắp: ống luồn thẳng cho tuyến chạy thẳng trong tường và trần, ống gân xoắn cho tuyến phải uốn lượn nhiều, và nẹp điện cho tuyến đi nổi trên mặt tường đã hoàn thiện.
Cách tính lượng ống co nhiệt cần mua: đếm số mối nối trong công trình, nhân với chiều dài mỗi đoạn khoảng 5 tới 8 centimét, rồi cộng thêm 30 phần trăm dự phòng cho các lần làm lại. Với nhà ở dân dụng thông thường, một mét cho mỗi cỡ là đủ cho toàn bộ công trình.
Giá phụ thuộc vào đường kính, tỷ lệ co, có keo hay không và độ dày thành ống. Bảng dưới là khoảng giá tham khảo tính theo mét.
| Nhóm sản phẩm | Đặc điểm | Khoảng giá tham khảo |
|---|---|---|
| Ống 2:1 không keo, phi nhỏ | Phi 3 đến phi 10, dùng trong nhà | 3.000 - 10.000 đ mỗi mét |
| Ống 2:1 không keo, phi lớn | Phi 16 đến phi 40 | 12.000 - 40.000 đ mỗi mét |
| Ống 3:1 có keo | Kín nước, dùng ngoài trời | 25.000 - 80.000 đ mỗi mét |
| Ống 4:1 thành dày có keo | Mối nối chôn ngầm, cáp lớn | Liên hệ theo cỡ |
| Bộ nhiều cỡ nhiều màu | Hộp lẻ cho thợ và gia đình | 60.000 - 250.000 đ mỗi bộ |
Với nhà thầu điện, đơn vị thi công và các đơn vị mua số lượng, chính sách chiết khấu theo cấp giá trị đơn hàng được áp dụng linh hoạt kèm hỗ trợ giao hàng ba miền. Với công trình, nên đặt theo cuộn thay vì mua lẻ theo mét vì giá trên mét giảm đáng kể và tránh được việc thiếu giữa chừng. Khách gửi danh sách cỡ dây cần nối, môi trường lắp đặt trong nhà hay ngoài trời và số lượng mối nối sẽ nhận lại phương án cỡ ống, tỷ lệ co, loại có keo hay không cùng báo giá theo cấp.
Với nhóm hàng này, chênh lệch chất lượng nằm ở chỗ không nhìn thấy được khi mua: nhiệt độ co thực tế và độ đồng đều của thành ống. Hàng kém co không đều, chỗ ôm chặt chỗ còn lỏng, và người mua chỉ phát hiện khi đã gia nhiệt xong.
Sản phẩm có chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng, công bố rõ đường kính trước co, đường kính sau co, tỷ lệ co, nhiệt độ co, độ dày thành và điện áp cách điện. Đây đều là các thông số cần cho việc chọn đúng cỡ chứ không phải thông tin quảng cáo, và cũng là các thông số mà hàng trôi nổi thường bỏ trống.
Đội kỹ thuật hỏi trước cỡ dây hai đầu, có đầu cốt hay không, mối nối nằm trong nhà hay ngoài trời, từ đó khoanh vùng cỡ ống và tỷ lệ co phù hợp thay vì bán theo cỡ khách đọc. Kho ba miền giao nhanh, có đủ dải cỡ từ phi nhỏ tới phi lớn và đủ màu theo quy ước pha. Ống co nhiệt được cung cấp và bảo hành bởi Hoàng Phát Lighting.
Xem thêm nhóm cha ống luồn dây điện để chọn trọn bộ vật tư cho một tuyến đi dây hoàn chỉnh.
Lấy đường kính chỗ to nhất mà ống phải trượt qua, nhân với 1,2, rồi làm tròn lên cỡ có sẵn. Mối nối 8mm thì chọn phi 10. Không nên chọn cỡ lớn hơn nhiều vì co xong ống sẽ nhăn và không ôm đều.
Ống 2:1 co còn một nửa đường kính ban đầu, hợp mối nối đều. Ống 3:1 co còn một phần ba, dùng khi mối nối có chỗ phình như đầu cốt to hơn thân dây, để co kín được cả hai đoạn trong một lần.
Không nên. Ngọn lửa trực tiếp làm cháy sém và chai lớp nhựa ở điểm chạm, phá hỏng chính khả năng cách điện. Nên dùng súng khò khí nóng, giữ cách 3 đến 5 centimét và xoay đều.
Khi mối nối ở ngoài trời, trong hộp âm tường có nguy cơ ẩm, hoặc có thể bị ngập. Loại có keo lấp kín mọi khe hở nên chặn được đường mao dẫn của hơi ẩm dọc theo dây.
Với loại có keo, phải thấy một viền keo trong nhỏ trào ra ở hai mép ống. Với loại không keo, ống phải ôm sát đều toàn bộ chu vi, không còn nếp nhăn và không còn bọng khí.
Phủ qua mỗi bên ít nhất 15 đến 20 milimét trên phần vỏ dây còn nguyên. Ống chỉ vừa đúng chỗ nối sẽ để hở phần đồng ở hai đầu.
Thay được về mặt cách điện và bền hơn nhiều, nhưng phải lồng vào dây trước khi đấu nối. Băng keo quấn được bất cứ lúc nào nên vẫn cần thiết cho việc sửa chữa tại chỗ.
Nguồn gốc: Hoàng Phát Lighting
Xem thêm
